|
Cha giải tội được phép cho ngừa thai?8/26/2014
1:11:34 PMLuật
Chúa và luật Giáo Hội thì áp dụng cho tất cả mọi người, cả những người
thi hành luật cũng phải tuân giữ.
Nếu là luật của Giáo Hội, thì có những trường hợp Giáo Hội miễn chuẩn
được. Quyền miễn chuẩn nầy áp dụng theo luật đã quy định (in jure) hoặc
được ban cho những người có chức năng (a jure), chứ không phải giáo sĩ
nào cũng có thẩm quyền. Riêng trong lãnh vực nầy thì không thừa tác
viên nào có quyền cho phép ngừa thai, dù việc ngừa thai được thực
hiện bằng bất cứ cách thức nào.Có một số giáo dân thắc mắc: tại sao linh
mục chỗ nầy cho phép ngừa thai mà chỗ kia lại không? Và cho rằng cha xứ
của mình “khó”.
Giáo Hội đã nhắc nhở các mục tử phải trung thành với giáo huấn của
Giáo Hội và khôn ngoan hướng dẫn các hối nhân về việc sinh sản có
trách nhiệm, như sau:
1. Phải dạy cho các đôi vợ chồng biết giá trị vô song của sự sống
con người, giúp đỡ họ dấn thân làm cho gia đình riêng của họ thành một
đền thờ hiến thánh cho sự sống: Chính Thiên Chúa hiện diện trong tình
phụ tử và mẫu tử của nhân loại theo một cách thức khác với cách thức xảy
ra trong những cuộc sinh sản của các sinh vật khác trên trái đất (Hội
Đồng Giáo Hoàng Về Gia Đình, Cẩm Nang cho các vị giải tội, số 2,1, ngày
12/2/1997).
2. Việc ngừa thai là một sự xấu nội tại, nghĩa là mỗi hành
vi vợ chồng chủ ý làm cho không thụ thai là một sự xấu nội tại. Phải coi
giáo huấn nầy là một học thuyết dứt khoát và không thể thay đổi.
Việc ngừa thai đối nghịch cách nghiêm trọng với đức khiết tịnh hôn nhân,
nó đi ngược lại với lợi ích của việc lưu truyền sự sống (khía cạnh sinh
sản của hôn nhân) và đi ngược lại với việc trao hiến hỗ tương giữa đôi
vợ chồng (khía cạnh kết hợp của hôn nhân). Nó làm tổn thương tình yêu
đích thực và chối từ vai trò tối thượng của Thiên Chúa trong việc lưu
truyền sự sống nhân loại (Sđd, nt, số 2,4).
3. Quan tâm và giúp đỡ, cũng như khích lệ các hối nhân để họ có
thể đạt đến sự sám hối đầy đủ và để họ có thể xưng thú trọn vẹn các tội
trọng (Sđd, nt, số 3,1).
4. Thừa tác viên phải đón nhận các hối nhân đến toà giải tội, giả
thiết họ có thiện chí giao hoà với Thiên Chúa của lòng thương xót,
ngoại trừ có bằng chứng ngược lại hiển nhiên (Sđd, nt, số 3,2).
5. Sự tái phạm tội ngừa thai tự nó không phải là lý do để không
ban ơn xá giải cho hối nhân. Chỉ có thể từ chối ban ơn xá giải khi hối
nhân thiếu lòng thống hối đầy đủ hay thiếu sự quyết tâm không sa ngã
phạm tội nữa (Sđd số 3,6). Điều nầy có nghĩa là khi xưng tội, hối
nhân không hứa loại bỏ những phương tiện ngừa thai cố định, thì
đương nhiên, thừa tác viên có thể từ chối ban ơn xá giải, vì thiếu điều
kiện sám hối đầy đủ và sự quyết tâm không tái phạm.
6. Chủ trương coi sự yếu đuối của riêng mình làm chuẩn mực cho
chân lý luân lý là điều không thể chấp nhận được (Sđd số 2,10). Như vậy
có nghĩa là: lương tâm sai lạc hoặc yếu đuối, không thể trở thành tiêu
chuẩn để biện minh và chuẩn nhận cho một hành động của mình, mà xét về
khách quan là trái với luân lý, nhưng về mặt chủ quan lại cho là được
phép.
7. Trong việc giảng dạy giáo lý và dẫn dắt đôi vợ chồng tương lai
tiến tới hôn nhân, các linh mục phải có những tiêu chuẩn đồng nhất
trong giảng dạy cũng như trong lãnh vực của bí tích Hoà Giải, trong sự
trung tín hoàn toàn và trọn vẹn với giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề tội
ác của hành vi ngừa thai (Sđd số 2,16).
Thiết tưởng những giáo huấn trên cho các thừa tác viên bí tích Hoà Giải
cũng là những xác định cho mọi người và trở nên nguyên tắc rõ ràng cho
mọi tín hữu trong vấn đề tế nhị nầy.
Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh
|